Thứ bảy, tháng một 19, 2008

Mobile Commerce

  1. Định nghĩa Di động (Mobile) và Không dây (Wireless)

Định nghĩa di động và không dây khác nhau tùy người và tùy tổ chức. Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ di động và không dây có thể được dùng thay thế cho nhau, mặc dù chúng là hai khái niệm khác nhau. Hãy bắt đầu với thuật ngữ di động. Di động là khả năng di chuyển. Một thiết bị di động là bất kỳ thứ gì có thể được dùng trong khi di chuyển, từ laptop đến điện thoại di động. Miễn là vị trí không cố định, thì nó sẽ được xem là di động. Ở đây ta không xét đến các khái niệm như văn phòng từ xa (remote office), văn phòng tại nhà (home office), hay ứng viên ở nhà (home applicant). Mặc dù chúng được định nghĩa là từ xa, nhưng không được xem là di động.

Không dây đề cập đến đến sự truyền tiếng nói và dữ liệu trên sóng vô tuyến. Nó cho phép nhân viên liên lạc với dữ liệu doanh nghiệp mà không cần phải kết nối vật lý đến mạng. Các thiết bị không dây bao gồm các thiết bị sử dụng một mạng không dây để gởi hay nhận dữ liệu. Mạng không dây, chính nó lại có thể được truy xuất từ các nhân viên di động, cũng như ở vị trí cố định. Hình 1 mô tả mối liên hệ giữa di động và không dây. Như ta thấy, trong hầu hết trường hợp, không dây là một tập con của di động; nhưng trong nhiều trường hợp, một ứng dụng có thể là di động mà không cần phải không dây.

Hình 1. Mối liên hệ giữa Di động và Không dây

Một ứng dụng được xem là di động hoặc không dây, nó phải được xét tương ứng với các đặc tính của thiết bị mà nó chạy trên đó. Tài nguyên hạn chế, băng thông thấp, và kết nối không liên tục là các yếu tố phù hợp với các ứng dụng di động.

Các ứng dụng không dây sử dụng mạng không dây cố định không phải là di động. Chúng là các mạng không dây cung cấp truy xuất mạng trong một môi trường cố định. Một ví dụ là mạng không dây nội bộ (Wireless LAN - WLAN) dùng để cung cấp truy xuất mạng cho các máy tính cá nhân. Nhiều doanh nghiệp cũng như người dùng gia đình đang cài đặt công nghệ WLAN để tránh phải cài đặt cáp mạng xuyên qua các công trình xây dựng của họ. Một ví dụ khác là mạng truy xuất qua vệ tinh ở những nơi xa xôi mà không có tùy chọn kết nối nào khác.

Mặt khác, các ứng dụng di động không hẳn phải là không dây. Có nhiều ví dụ rơi vào trường hợp này. Ứng dụng di động là bất kỳ ứng dụng nào có thể được sử dụng khi di chuyển và kết nối không dây không thích hợp với phạm trù này. Nó bao gồm các ứng dụng laptop và PDA. Một vài năm trước đây, thật sự rất hiếm có truy xuất dữ liệu không dây cho các thiết bị di động. Đối với các ứng dụng di động, dữ liệu thường được đồng bộ hóa bằng kết nối cố định và được lưu trữ trên thiết bị để sử dụng sau này. Cũng nên chú ý là mặc dù các ứng dụng này không yêu cầu kết nối không dây, nhưng nếu có thể thì vẫn có lợi.

    1. Định nghĩa m-commerce

Tiến bộ trong công nghệ vô tuyến đã làm tăng số lượng người sử dụng thiết bị di động và dẫn đến sự phát triển nhảy vọt của thương mại điện tử sử dụng các thiết bị này. Loại giao dịch thương mại điện tử mới, thực hiện giao dịch thông qua các thiết bị di động sử dụng mạng viễn thông vô tuyến và các công nghệ thương mại điện tử hữu tuyến khác, được gọi là thương mại di động (mobile commerce) (còn được gọi là mobile e-commerce hay m-commerce).

Thương mại di động cho phép một phương thức trao đổi và mua bán thông tin mới, và nó đưa ra một lĩnh vực chưa được khai phá. Đối với khách hàng, nó mang đến sự thuận tiện; đối với các nhà kinh doanh nó là một tiềm năng kiếm tiền rất lớn; đối với nhà cung cấp dịch vụ xem nó là một thị trường lớn chưa được khai thác; đối với chính phủ xem nó là một kết nối hiệu quả cao đến các cử tri của họ. Nói ngắn gọn lại, thương mại di động hứa hẹn nhiều cơ hội kinh doanh hơn là thương mại điện tử truyền thống. Bởi vì các đặc tính riêng và sự ràng buộc của các thiết bị di động và mạng vô tuyến, thương mại di động hoạt động trong một môi trường rất khác biệt so với thương mại điện tử trên Internet hữu tuyến.

    1. Những đặc trưng của thương mại di động

Bản chất của thương mại di động là không nằm ngoài ý tưởng tiếp xúc với khách hàng, nhà cung cấp và nhân viên mà không cần quan tâm đến việc họ đang ở đâu. Thương mại di động là sự cung cấp đúng thông tin đến đúng chỗ và vào đúng thời điểm. Nó mang đến cho người dùng khả năng truy xuất Internet bất kể ở đâu và bất kỳ lúc nào, mang đến khả năng định vị người dùng sử dụng thiết bị di động cá nhân, tính năng truy xuất thông tin vào lúc cần thiết, và khả năng cập nhật thông tin/dữ liệu dựa theo yêu cầu. Thương mại di động có các đặc trưng mà thương mại điện tử thông thường không có, ta xét một số đặc trưng sau đây:

      1. Tính rộng khắp (Ubiquity)

Tính rộng khắp là ưu điểm chính của thương mại di động. Người dùng có thể lấy bất kỳ thông tin nào họ thích, bất kỳ khi nào họ muốn không cần quan tâm đến vị trí của họ, thông qua các thiết bị di động kết nối Internet. Trong các ứng dụng thương mại di động, người dùng vẫn có thể hoạt động bình thường, chẳng hạn như gặp gỡ mọi người hay đi lại, trong khi thực hiện giao dịch hay nhận thông tin. Với khả năng này, thương mại di động làm cho dịch vụ hay ứng dụng có thể đáp ứng bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào khi nảy sinh nhu cầu.

      1. Khả năng tiếp xúc (Reachability)

Thông qua thiết bị di động, các nhà kinh doanh có thể tiếp xúc với khách hàng bất kỳ lúc nào. Mặt khác, với một thiết bị di động, người dùng có thể giao tiếp với người khác bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào. Hơn nữa, người dùng có thể giới hạn khả năng tiếp xúc của họ với một số người cá biệt và tại các thời gian cá biệt.

      1. Sự định vị (Localization)

Khả năng biết được vị trí vật lý của người dùng tại một thời điểm cụ thể cũng làm tăng giá trị của thương mại di động. Với thông tin về định vị, ta có thể cung cấp các ứng dụng dựa trên vị trí. Ví dụ, khi biết được vị trí của người dùng, dịch vụ di động sẽ nhanh chóng thông báo cho họ biết khi nào bạn bè hay đồng nghiệp của họ sẽ ở gần. Nó cũng sẽ giúp người dùng định vị một nhà hàng hay một máy rút tiền tự động gần nhất.

      1. Tính cá nhân hóa (Personalization)

Một số lượng thông tin, dịch vụ và ứng dụng khổng lồ tồn tại trên Internet, và tính thích đáng (relevant) của thông tin người dùng nhận được là rất quan trọng. Bởi vì người sử dụng thiết bị di động thường yêu cầu các tập ứng dụng và dịch vụ khác nhau, các ứng dụng thương mại di động có thể được cá nhân hóa để biểu diễn thông tin hay cung cấp dịch vụ một cách thích đáng đến người dùng chuyên biệt.

      1. Tính phổ biến (Dissemination)

Một số hạ tầng vô tuyến hỗ trợ việc cung cấp dữ liệu đồng thời đến tất cả người dùng di động trong một vùng địa lý xác định. Tính năng này cung cấp một phương tiện hiệu quả để phổ biến thông tin đến một số lượng lớn người tiêu dùng.

    1. Tổng quan các công nghệ thương mại di động

Thương mại di động được xây dựng bởi sự kết hợp của các công nghệ như mạng, các hệ thống nhúng, cơ sở dữ liệu, bảo mật. Phần cứng di động, phần mềm và mạng vô tuyến giúp các hệ thống thương mại di động truyền dữ liệu nhanh chóng hơn, định vị vị trí của người dùng chính xác hơn và giao dịch kinh doanh bảo mật và tin cậy hơn. Ta sẽ giới thiệu các công nghệ chính làm cho thương mại di động trở thành hiện thực, các công nghệ đang và sẽ nâng cao hiệu quả và tính năng của nó trong tương lai gần.

      1. Công nghệ truyền thông (Communication Technology)

GSM

Global System for Mobile Communications (GSM) còn được gọi là mạng số thế hệ thứ hai (2G-second generation), hoạt động ở băng tần 900 MHz và 1800 MHz. Là một dịch vụ chuyển mạch kênh, người dùng phải quay số để duy trì kết nối khi cần truyền thông dữ liệu, là chuẩn di động thịnh hành ở châu Âu và hầu hết vùng châu Á Thái Bình Dương.


GPRS và EDGE

GPRS (General Packet Radio Service) và EDGE (Enhanced Data GSM Environment) còn được gọi là các công nghệ 2,5 G. GPRS sử dụng hạ tầng mạng có sẵn nhưng nó được giới thiệu là cung cấp tốc độ kiểu ISDN. Thay vì gởi một luồng dữ liệu liên tục trên một kết nối thường xuyên, hệ thống chuyển mạch gói của GPRS chỉ sử dụng mạng khi có dữ liệu được truyền. Người dùng có thể gởi và nhận dữ liệu lên đến 115 kbit/giây với GPRS. EDGE, là một phiên bản nhanh hơn của GSM, được thiết kế để cho phép truyền dữ liệu multimedia và các ứng dụng băng rộng khác. Nó sẽ sử dụng kỹ thuật điều biến (modulation) mới để cho phép tốc độ dữ liệu lên đến 384 kbit/giây trên hạ tầng sẵn có của GSM.


UMTS

Universal Mobile Technology System (UMTS), còn được gọi là công nghệ thế hệ thứ 3 (3G), nhắm vào truyền thông văn bản, thoại, video, và multimedia dựa trên gói, có băng thông cao để hỗ trợ các ứng dụng cần nhiều dữ liệu. Một khi UMTS được triển khai đầy đủ, máy tính và người dùng điện thoại có thể kết nối Internet liên tục và truy xuất dịch vụ toàn cầu. Tích hợp chức năng của các thiết bị đa dạng khác nhau, điện thoại di động thế hệ 3G có thể được dùng như một điện thoại, một máy tính, một TV, một tờ giấy, một trung tâm hội thảo video, một tạp chí, một sổ ghi nhớ, hay thậm chí là một thẻ tín dụng.


Các công nghệ thế hệ thứ tư

Mặc dù các công nghệ 3G chỉ mới xuất hiện, người ta cũng đã bắt đầu nghiên cứu các công nghệ thế hệ thứ tư (4G). Các nghiên cứu này nhằm giải quyết hoàn thiện các giao diện vô tuyến đa dạng và thậm chí là hạ tầng truy xuất vô tuyến hoàn toàn mới. Các phương thức điều biến tốt hơn và công nghệ an ten thông minh là hai lĩnh vực nghiên cứu chính cho phép hệ thống vô tuyến thế hệ thứ tư tốt hơn mạng vô tuyến thế hệ thứ ba (theo PriceWaterHouseCoopers, 2001)


Hình 2. Sự phát triển công nghệ truyền thông vô tuyến


Bluetooth

Blutooth là một công nghệ vô tuyến năng lượng thấp dùng cho truyền thông và trao đổi dữ liệu. Sử dụng một chip đơn với mạch truyền vô tuyến gắn sẵn, Bluetooth là một chuẩn vô tuyến sóng ngắn rẻ tiền hỗ trợ cho mạng cục bộ (LAN). Nó được phát triển để thay thế cáp và kết nối hồng ngoại trong vòng bán kính 10m. Bluetooth có thể được dùng để kết nối các thiết bị điện tử, ví dụ như máy vi tính, máy in, thiết bị di động và PDA, với mạng dữ liệu vô tuyến.

Như mô tả trong Hình 3, công nghệ vô tuyến thế hệ thứ nhất là điện thoại tế bào tương tự (cellcular phone). Công nghệ vô tuyến thế hệ thứ hai, bao gồm điện thoại tế bào số, băng tần thấp hiện tại được sử dụng rộng rãi. Công nghệ vô tuyến thế hệ thứ ba cung cấp băng thông cao để hỗ trợ các ứng dụng cần nhiều dữ liệu.


Hình 3. Sự phát triển của công nghệ vô tuyến

WAP

Wireless Application Protocol (WAP) là một chuẩn mở toàn cầu cho giải pháp di động, thiết kế riêng biệt cho phân phát thông tin Web đến thiết bị di động (như trong Hình 4). Là một giao thức ứng dụng end-to-end, nó cung cấp giải pháp cho việc phát triển các ứng dụng di động, chẳng hạn như kết nối các thiết bị di động vào Internet và làm cho các thiết bị di động trở thành các thiết bị truyền thông có khả năng truyền thông với các thiết bị khác trên mạng vô tuyến. Nó cũng cho phép thiết kế các dịch vụ di động tương tác và thời gian thực.

Hình 4. Hệ thống WAP

J2ME

J2ME (Java 2 Platform Micro Edition) là nền tảng Java, phiên bản thu nhỏ của Sun Microsystems. J2ME được xây dựng nhằm mang đến khả năng phát triển ứng dụng đa dạng, phong phú cho các thiết bị di động. Với ưu thế của ngôn ngữ Java, dựa trên hạ tầng mạng có sẵn của WAP, J2ME có thể dùng để xây dựng các ứng dụng từ đơn giản đến phức tạp nếu kết hợp với các công nghệ phía server.

      1. Công nghệ trao đổi thông tin


HTML

HTML (Hyper-Text Markup Language) được thông qua rộng rãi bởi cộng đồng Internet là một định dạng tài liệu dùng để duyệt (browse). Các công cụ tác chủ và trình duyệt sẵn có làm cho người dùng tạo các tài liệu HTML kết hợp các đối tượng multimedia một cách dễ dàng.


XML

eXtensible Markup Language (XML) là một siêu ngôn ngữ (meta-language), được thiết kế để truyền thông ngữ nghĩa của dữ liệu thông một cơ chế mô tả. Nó đánh thẻ dữ liệu và đặt nội dung vào trong ngữ cảnh (context), do đó cho phép nhà cung cấp mã hóa ngữ nghĩa vào tài liệu của họ. Đối với các hệ thống thông tin hỗ trợ XML, dữ liệu có thể được trao đổi thậm chí giữa các tổ chức với các hệ thống hoạt động và mô hình dữ liệu khác nhau, miễn là các tổ chức này đồng ý về ngữ nghĩa của dữ liệu mà họ trao đổi.


WML

Wireless Markup Language (WML), xuất phát từ XML, được phát triển đặc biệt cho WAP. Nó cho phép thông tin được trình bày như các thẻ bài (card) thích hợp để hiển thị trên các thiết bị di động. Như vậy WML chủ yếu cho WAP cũng giống như HTML cho Internet.


SMS

Short Message Service (SMS) cho phép gởi và nhận các thông điệp văn bản đến và đi từ điện thoại di động. Có thể trao đổi lên đến 160 ký tự chữ cái và số trong mỗi thông điệp SMS. Nó cũng cung cấp các dịch vụ thông tin di động, chẳng hạn như tin tức, thị trường chứng khoán, thể thao và thời tiết. Gần đây SMS chat và tải nhạc chuông cũng đã được cung cấp.


MIDP

Mobile Information Device Profile (MIDP) là một bộ phận cụ thể của J2ME. Ngày càng được các nhà cung cấp hàng đầu hỗ trợ xây dựng, MIDP tập hợp các thư viện và API dùng để phát triển ứng dụng J2ME độc lập với phần cứng.

      1. Công nghệ xác định vị trí

Trong truyền thông di động, biết được vị trí vật lý của người dùng tại một thời điểm là trung tâm của việc cung cấp dịch vụ thích hợp. Các công nghệ xác định vị trí rất quan trọng đối với một số loại ứng dụng thương mại di động, đặc biệt là trong các ứng dụng mà nội dung thay đổi dựa theo vị trí. Global Positioning System (GPS), là một công nghệ định vị hữu ích, sử dụng hệ thống vệ tinh trên quỹ đạo trái đất. Bởi vì các vệ tinh liên tục quảng bá vị trí và hướng của nó, trạm nhận GPS có thể tính toán các vị trí địa lý với độ chính xác cao. Được phát triển đầu tiên cho lĩnh vực quân sự của Mỹ, GPS ngày nay cũng được dùng cho các mục đích phi quân sự. Ví dụ, GPS có thể được sử dụng trong các hệ thống định hướng xe hơi.

    1. Một số giải pháp m-commerce

      1. Mua bán số (Digital purchase)

Mua bán số thích hợp nhất cho người dùng di động là cho các sản phẩm có thể được tải về và sử dụng ngay lập tức. Hai thị trường lớn nhất cho các ứng dụng số là nhạc chuông (ringtone) và trò chơi (game). Nhiều hãng truyền thông cho phép người dùng tải nhạc chuông mới về thiết bị của họ với cước phí rẻ. Điều này cho phép người dùng cá nhân hóa thiết bị của họ. Một lĩnh vực chắc chắn thành công nữa đó là trò chơi di động. Các tiến bộ trong lĩnh vực sản xuất thiết bị di động làm cho chúng trở thành các thiết bị tuyệt vời để chơi trò chơi.

      1. Ngân hàng di động (Mobile banking).

Thiết bị không dây có hai ưu điểm cho ngân hàng di động. Ưu điểm đầu tiên là cung cấp khả năng truy xuất tài khoản ngân hàng cá nhân để xem nhật ký tài khoản và thực hiện giao tác. Đây là một mở rộng cho ngân hàng Internet (Internet banking) vốn đã rất thành công. Ưu điểm thứ hai là sử dụng thiết bị di động cho việc thanh toán, giống như một tiền mặt số (digital cash). Lĩnh vực này rất được quan tâm, và hi vọng nó sẽ trở thành hiện thực trong tương lai gần.

      1. Các dịch vụ thông tin (Information Service).

Mặc dù sự di động có nhiều lợi ích, nhưng người dùng di động vẫn thường cảm thấy mất liên lạc với thói quen hàng ngày. Các dịch vụ thông tin giúp giải quyết vần đề này bằng cách cung cấp thông tin thông dụng cho người dùng, chẳng hạn như thông tin chứng khoán, thông tin thời tiết, và tỉ số thể thao. Với sự phát triển rộng rãi của thông điệp di động, nhiều dạng thông tin có thể được đưa đến người dùng hơn.

      1. Các dịch vụ dựa trên vị trí (Location-based service).

Nếu các nhà kinh doanh có khả năng nắm bắt và phản ứng với vị trí và yêu cầu hiện tại của người dùng thì đây sẽ là một công cụ mạnh để tiêu thụ sản phẩm. Các dịch vụ dựa trên vị trí cho phép khách hàng tìm thông tin chính xác mà họ cần vào đúng thời điểm mà họ muốn dùng nó. Đây sẽ là một công cụ quan trọng cho giải pháp m-commerce, mặc dù các vấn đề liên quan đến sự riêng tư sẽ phải được giải quyết trước khi các dịch vụ định vị được sử dụng rộng rãi.

      1. Mua sắm di động.

Không phải hầu hết các dạng mua sắm đều sẽ phổ biến trên thiết bị di động ngay được. Sẽ là không thực tế khi tìm hàng hóa sử dụng các thiết bị bị hạn chế, trong khi các phương thức mua sắm khác thì hữu ích và thú vị hơn. Có một số dạng mua bán có thể thích ứng tốt với m-commerce. Ví dụ, việc mua vé xem phim là hoàn toàn có khả năng. Các thiết bị di động cũng có thể được dùng cho việc so sánh trước khi mua sắm (comparison-shopping). Trước khi quyết định mua sắm, người tiêu dùng có thể muốn tham khảo trước giá của một sản phẩm đó từ nhà cung cấp Internet để bảo đảm rằng họ đã mua đúng giá.

      1. Quảng cáo di động (Mobile advertising).

Khi người dùng di động bắt đầu thấy được lợi ích từ giải pháp m-commerce, thì tiếp theo đó sẽ xuất hiện quảng cáo di động. Các nhà cung cấp dịch vụ có khả năng lấy được các thông tin hấp dẫn đối với các nhà quảng cáo, chẳng hạn như nơi người dùng đang đứng, và họ sử dụng điện thoại di động của họ cho việc gì. Với các thông tin dạng này, các nhà quảng cáo có thể gởi các thông điệp đã được cá nhân hóa. Trở ngại lớn nhất cho việc quảng cáo di động là phản ứng ngược của khách hàng. Nếu người dùng nhận được những thông điệp và quảng cáo không tự nguyện, họ sẽ có thể thay đổi nhà cung cấp dịch vụ, hay thậm chí tệ hơn là ngừng sử dụng thiết bị của họ. Vì lý do này, trong tương lai gần, chúng ta hầu như chỉ sẽ nhận được các thông tin quảng cáo theo yêu cầu, ví dụ như từ trạm xăng hay nhà hàng gần nhất.